Giá trị và độ tin cậy của thang đo nhận thức hoạt động quản lý nguồn nhân lực điều dưỡng

Các tác giả

  • Huỳnh Thị Phượng Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Bùi Thị Thu Thủy Viện Nghiên cứu và Đào tạo Y Dược An Sinh
  • Cam Ngọc Thúy Bệnh viện Quân Y 175
  • Nguyễn Thị Tiến Bệnh viện Thống Nhất
  • Nguyễn Thị Ngọc Cần Bệnh viện Đa khoa Lãnh Binh Thăng
  • Hoàng KC Trang Bệnh viện An Bình
  • Nguyễn Văn Dừa Bệnh viện An Sinh
DOI: https://doi.org/10.59294/HIUJS2026112

Từ khóa:

quản lý nguồn nhân lực, điều dưỡng, thang đo, giá trị, độ tin cậy

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sự thiếu hụt một công cụ đánh giá chuẩn hóa về công tác quản lý nguồn nhân lực điều dưỡng tại Việt Nam đã đặt ra nhu cầu phải phát triển và kiểm định một thang đo chuyên biệt. Mục tiêu: Kiểm định giá trị và độ tin cậy của thang đo nhận thức về quản lý nguồn nhân lực điều dưỡng trong bối cảnh bệnh viện Việt Nam. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 641 điều dưỡng tại 4 bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh (12/2025 - 01/2026) bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Thang đo ban đầu được phát triển qua 4 bước hệ thống, đạt độ giá trị nội dung xuất sắc (CVI = 1). Dữ liệu sau đó được thu thập qua phiếu tự điền (Likert 5 mức độ), phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 và AMOS qua các kiểm định Cronbach’s alpha, EFA và CFA. Kết quả: Thang đo sau hiệu chỉnh gồm 29 biến quan sát, hội tụ vào 6 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 84.326%. Hệ số Cronbach’s alpha các nhân tố dao động từ 0.920 đến 0.965. Kết quả CFA khẳng định mô hình tương thích tốt với dữ liệu: CFI = 0.948; TLI = 0.942; RMSEA = 0.072. Giá trị hội tụ đảm bảo với CR từ 0.93 đến 0.97 và AVE từ 0.73 đến 0.85. Kết luận: Thang đo đạt về giá trị khoa học và độ tin cậy. Đây là công cụ có thể giúp các nhà quản lý bệnh viện đánh giá thực trạng và xây dựng chiến lược nhân sự phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc điều dưỡng.

Abstract

Background: The lack of a standardized assessment tool for nursing human resource management in Vietnam has created a need to develop and validate a specialized scale. Objective: To evaluate the validity and reliability of a scale assessing perceptions of nursing human resource management within the Vietnamese hospital context. Methods: Using convenience sampling, a cross-sectional study was conducted among 641 nurses at four hospitals in Ho Chi Minh City from December 2025 to January 2026. The initial scale was developed through a systematic four-step process, yielding an excellent content validity index (CVI = 1). Data was collected using self-administered 5-point Likert questionnaires and analyzed with SPSS 16.0 and AMOS through Cronbach’s alpha, EFA, and CFA. Results: The modified scale comprised 29 items loading onto 6 factors, explaining 84.326% of the total variance. The scale demonstrated high internal consistency, with Cronbach’s alpha coefficients ranging from 0.920 to 0.965. CFA results confirmed a good model fit: CFI = 0.948; TLI = 0.942; RMSEA = 0.072. Convergent validity was well-established, with Composite Reliability (CR) ranging from 0.93 to 0.97 and Average Variance Extracted (AVE) from 0.73 to 0.85. Conclusion: The scale demonstrated robust validity and reliability. It serves as an effective tool for hospital administrators to assess current practices and develop appropriate human resource strategies to enhance the quality of nursing care.

Tài liệu tham khảo

[1] P. P. Gile, M. Buljac-Samardzic, and J. V. Klundert, "The effect of human resource management on performance in hospitals in Sub-Saharan Africa: a systematic literature review," Hum. Resour. Health, vol. 16, no. 34, 2018, doi: 10.1186/s12960-018-0298-4.

[2] X. Qin, Y. N. Huang, Z. Hu, et al., "Human resource management research in healthcare: a big data bibliometric study," Hum. Resour. Health, vol. 21, no. 94, 2023, doi: 10.1186/s12960-023-00865-x.

[3] Q. Xiao, F. L. Cooke, and L. Chen, "Nurses’ well-being and implications for human resource management: a systematic literature review," Int. J. Manag. Rev., vol. 24, no. 4, pp. 599-624, 2022, doi: 10.1111/ijmr.12295.

[4] M. Indrasari, N. Syamsudin, R. B. Purnomo, and E. Yunus, "Compensation, organizational communication, and career path as determinants of employee performance improvement," Humanities & Social Sciences Reviews, vol. 7, no. 4, pp. 956-961, 2019, doi: 10.18510/hssr.2019.74130.

[5] Z. Abidin, A. Mahmood, R. Akhlaque, and S. A. Baig, "Identification of HRM practices to Improve work engagement of medical staff of Government hospitals," Journal of Excellence in Management Sciences, vol. 3, no. 3, pp. 108-140, 2024, doi: 10.69565/jems.v3i3.335.

[6] N. T. Nga, T. T. T. Thủy, T. T. B. Ngọc, N.T. Quỳnh, và N.T. Hương, "Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với công việc của điều dưỡng viên tại bệnh viện Bạch Mai, năm 2019," Journal of Health and Development Studies, tập 2, số 3, 2019.

[7] N. T. H. Minh, N. Q. Trân, V. T. H. Nhẩn, ….và T.T.T. Tâm, "Sự gắn kết trong công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM," Tạp chí Y học Việt Nam, tập 539, số 2, 2024, doi: 10.51298/vmj. v539i2.9835.

[8] L. T. Chiến, T. T. Đào, H. H. U. Tài, H.V. Triều và M.M. Châu "Kết quả công tác quản lý nhân lực y tế và sự gắn kết tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương và một số yếu tố ảnh hưởng," Tạp chí Y học Cộng đồng, tập 65, CĐ 8, 2024, doi: 10.52163/yhc.v65iCD8.1451.

[9] N. T. M. Hòa, P. T. Ngân, và H. T. An, "Tác động của gắn kết tới mức độ hoàn thành công việc của nhân viên y tế: trường hợp tại bệnh viện đa khoa Thái Thụy, Thái Bình," Tạp chí Y học Việt Nam, tập 516, số 2, 2022, doi: 10.51298/vmj. v516i2.3034.

[10] L. K. Đăng và M. N. Khương, "Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức đến động lực làm việc, sự gắn kết và hiệu suất công việc của nhân viên y tế công lập thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long," Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh - Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, tập 18, số 3, tr. 5-17, 2023, doi: 10.46233/HCMCOUJS.econ.vi.18.3.2237.2023.

[11] P. T. N. Mai, "Ảnh hưởng của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến sự gắn kết và hành vi chủ động làm việc của cán bộ ngành y tế tỉnh Gia Lai," Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing, tập 13, số 1, tr. 63-76, 2022, doi: 10.52932/jfm.vi67.241.

[12] V. T. H. Lan, L. T. M. Chi, và N. N. Bích, "Thực trạng gắn kết với tổ chức trong nhân viên trung tâm y tế huyện Sông Hinh, Tỉnh Phú Yên năm 2020," Tạp chí Y học Việt Nam, tập 502, số 1, 2021, doi: 10.51298/vmj.v502i1.605.

[13] J. F. Hair, W. C. Black, B. J. Babin, and R. E. Anderson, Multivariate Data Analysis, 7th ed. Pearson Education, 2014.

[14] C. Fornell and D. F. Larcker, "Structural Equation Models with Unobservable Variables and Measurement Error: Algebra and Statistics," Journal of Marketing Research, vol. 18, pp. 382-388, 1981.

[15] L. Hu and P. M. Bentler, "Cut off criteria for fit indexes in covariance structure analysis: Conventional criteria versus new alternatives," Structural Equation Modeling, vol. 6, no. 1, pp. 1-55, 1999.

Tải xuống

Xem tóm tắt: 2
Tải file: 1

Đã xuất bản

24.09.2026

Cách trích dẫn

[1]
H. T. Phượng, “Giá trị và độ tin cậy của thang đo nhận thức hoạt động quản lý nguồn nhân lực điều dưỡng”, HIUJS, vol 43, tr 65–72, tháng 9 2026.

Số

Chuyên mục

Y HỌC

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

Các bài báo tương tự

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >> 

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.