Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của sinh viên Trường Đại học Phan Châu Trinh
Các tác giả
DOI: https://doi.org/10.59294/HIUJS2026111Từ khóa:
sức khỏe sinh sản, kiến thức, thái độ, hành vi, các yếu tố liên quanTóm tắt
Đặt vấn đề: Sinh viên đại học là nhóm dân số đặc biệt quan trọng trong công tác chăm sóc SKSS, đặc biệt đối với nhóm tuổi vị thành niên, bởi đây là giai đoạn chuyển tiếp từ vị thành niên sang trưởng thành. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS và xác định các yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Phan Châu Trinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 290 sinh viên hệ chính quy tại Trường Đại học Phan Châu Trinh từ tháng 12/2025 - tháng 5/2026. Dữ liệu được thu thập thông qua công cụ trực tuyến Google Forms gửi đến email cá nhân của sinh viên. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn về kiến thức, thái độ và thực hành SKSS lần lượt là 33.8%, 44.5% và 58.3%. Phân tích hồi quy đa biến xác định: Kiến thức liên quan có ý nghĩa thống kê với năm học (β = 0.381; p < 0.001), ngành học (β = -0.188; p = 0.001) và quê quán (β = -0.203; p < 0.001). Thái độ liên quan có ý nghĩa với Giới tính (β = 0.272; p < 0.001) và quê quán (β = -0.206; p = 0.001). Hành vi liên quan có ý nghĩa với giới tính (β = 0.309; p < 0.001), quê quán (β = 0.300; p < 0.001) và ngành học (β = -0.123; p = 0.048). Kết luận: Trong phạm vi nghiên cứu tại Trường Đại học Phan Châu Trinh, kết quả gợi ý rằng cần ưu tiên các chương trình giáo dục SKSS cho nhóm sinh viên năm đầu, nam giới và sinh viên có quê quán nông thôn.
Abstract
Background: University students represent a particularly important population group in reproductive health care, especially adolescents, as this stage marks the transition from adolescence to adulthood. Objective: To assess the current status of knowledge, attitudes, and practices (KAP) regarding reproductive health and to identify associated factors among students of Phan Chau Trinh University in 2026. Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 290 full-time students at Phan Chau Trinh University from December 2025 to May 2026. Data were collected using an online Google Forms questionnaire distributed via students’ personal emails. Results: The proportions of students meeting standards for reproductive health knowledge, attitudes, and practices were 33.8%, 44.5%, and 58.3%, respectively. Multivariate regression analysis demonstrated significant associations across several domains. Knowledge was positively associated with academic year (β = 0.381;p < 0.001), but negatively related to field of study (β = -0.188;p = 0.001) and hometown (β = -0.203;p < 0.001). Attitude showed significant associations with gender (β = 0.272;p < 0.001) and hometown (β = -0.206;p = 0.001). Behavior was significantly related to gender (β = 0.309;p < 0.001), hometown (β = 0.300;p < 0.001), and field of study (β = -0.123;p = 0.048). Conclusion: Within the scope of research at Phan Chau Trinh University, the results suggest that priority should be given to reproductive health education programs for first-year students, male students, and those from rural areas.
Tài liệu tham khảo
[1] N. R. C. (US) P. on R. Health, A. O. Tsui, J. N. Wasserheit, and J. G. Haaga, “Introduction,” in Reproductive Health in Developing Countries: Expanding Dimensions, Building Solutions, National Academies Press (US), 1997. Accessed: Jun. 26, 2026. [Online]. Available: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK233276/
[2] C. Montenegro-Rivera, J. C. Martínez-Royert, and J. Hernández-Martínez, “Sex education for adolescent and young adult university students, a new challenge in higher education: a systematic review,” Front. Public Health, vol. 14, Feb. 2026, doi: 10.3389/fpubh.2026.1759427.
[3] N. V. Rị, L. T. T. Bình, P. N. M. Vương, và N. V. Chinh, “Kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe sinh sản vị thành niên và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung cấp kỹ thuật và nghiệp vụ công đoàn Bình Dương năm 2024,” Tạp chí Y học Cộng đồng, tập 66, số CĐ2-NCKH, tr. 209-214, tháng 3, 2025, doi: 10.52163/yhc.v66iCĐ2.2225.
[4] Y. Ren, Y. Xie, Q. xu, M. Long, Y. Zheng, L. Lin, C. Niu., “University students’ fertility awareness and its influencing factors: a systematic review,” Reprod Health, vol. 20, no. 1, p. 85, Jun. 2023, doi: 10.1186/s12978-023-01628-6.
[5] A. Muhayimana T. Ntalindwa, A. Uwase, K. Gerard, J. Niringiyumukiza, A. J. D. L. C. Ingabire, et al, “Knowledge of sexual and reproductive health and rights among University of Rwanda students: a cross-sectional study,” BMJ Public Health, vol. 3, no. 2, p. e001607, 2025, doi: 10.1136/bmjph-2024-001607.
[6] P. V. Tien, H. T. Quyen, T. D. H. Ngoc, L. N. Thong, D. D. M. Trung, D. T. T. Hien, et al., “Sexual health and sexually transmitted diseases knowledge: insights from a large-scale university student survey in Ho Chi Minh City, Vietnam,” Tạp chí Y Dược Huế, tập 15, số 4, tr. 61-70, tháng 8, 2025, doi: 10.34071/jmp.2025.4.9.
[7] D. A. Doan, S. T. Pham, T. T. X. Nguyen, T. N. N. Luu, T. T. P. Nguyen, G. B. Le, et al., “Knowledge and attitudes towards contraception among undergraduate students: a multicentre, cross-sectional study in Vietnam,” BMJ Open, Mar. 2026, doi: 10.1136/bmjopen-2025-113363.
[8] M. T. Mai và P. V. Thân, “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về sức khỏe sinh sản của sinh viên học viện y, năm 2017,” Tạp chí Y học Quân sự, số 350, tháng 2, 2021.
[9] Đ. N. D. Trang, P. T. B. Ngọc, và N. V. Q. Huy, “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản ở nữ vị thành niên tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế,” Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế, tập 6, số 6, tr. 85-92, tháng 1, 2017.
[10] N. V. Tới và N. Đ. Trọng, “Kiến Thức, Thái Độ, Hành Vi Về Sức Khoẻ Sinh Sản Của Sinh Viên Trường Cao Đẳng Y Tế Lâm Đồng,” Cantho Journal of Medicine and Pharmacy, số 74, tr. 51-58, tháng 5, 2024, doi: 10.58490/ctump.2024i74.2573.
[11] N. T. Linh, M. Hoa, V. M. Anh, V. N. Anh, H. T. Dat, D. T. T. Dung, et al, “Kiến Thức, Thái Độ, Hành Vi Về Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản Của Sinh Viên Trường Cao Đẳng Công Nghệ Cao Đồng An Và Các Yếu Tố Liên Quan,” Tạp chí Y học Cộng đồng, tập 66, số 3, tháng 5, 2025, doi: 10.52163/yhc.v66i3.2504.
[12] N. T. H. Hạnh, T. N. T. Hiền, và P. T. H. Yến, “Kiến thức, thái độ và hành vi về chăm sóc sức khỏe sinh sản của sinh viên nữ Trường Đại học Yersin Đà Lạt,” Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng, số 3, tr. 29-45, tháng 6, 2024, doi: 10.54804/yhthvb.3.2024.319..
[13] T. T. Nguyen, D. C. Nguyen, T. P. Tran, H. T. Do, C. A. Latkin, M. W. B. Zhang, et al., “Exploring Awareness, Attitudes, and Access Regarding Sexual and Reproductive Health Services Among Young People in Vietnam,” Health Promot Pract, p. 15248399251362169, Sep. 2025, doi: 10.1177/15248399251362169.
[14] J. H. Nho and H. S. Kim, “Gender Differences and Relationships among Lifestyle and Reproductive Health in University Students,” Women’s Health Nursing, vol. 25, no. 4, pp. 446-458, Dec. 2019. Doi: https://doi.org/10.4069/kjwhn.2019.25.4.446.
[15] I. Krumpal, “Determinants of social desirability bias in sensitive surveys: a literature review,” Qual Quant, vol. 47, no. 4, pp. 2025-2047, Jun. 2013, doi: 10.1007/s11135-011-9640-9.
[16] A. Althubaiti, “Information bias in health research: definition, pitfalls, and adjustment methods,” J Multidiscip Healthc, vol. 9, pp. 211-217, 2016, doi: 10.2147/JMDH.S104807.
[17] J. Bethlehem, “Selection Bias in Web Surveys,” International Statistical Review, vol. 78, no. 2, pp. 161-188, 2010, doi: 10.1111/j.1751-5823.2010.00112.x.
Tải xuống
Tải file: 1



