Thiết lập khoảng tham chiếu một số chỉ số huyết học tế bào và hoá sinh trên người trưởng thành
Các tác giả
DOI: https://doi.org/10.59294/HIUJS2026086Từ khóa:
khoảng tham chiếu, chỉ số hoá sinh, tổng phân tích tế bào máu ngoại viTóm tắt
Đặt vấn đề: Khoảng giá trị tham chiếu đóng vai trò quan trọng trong việc diễn giải kết quả xét nghiệm, hỗ trợ chẩn đoán và theo dõi điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Thiết lập khoảng giá trị tham chiếu của một số chỉ số huyết học tế bào máu và hóa sinh ở người trưởng thành khỏe mạnh từ 18 đến 35 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 530 người trưởng thành khoẻ mạnh từ 18 đến 35 tuổi, phân loại khám sức khoẻ loại I tại Phòng khám Đa khoa Đại học Phenikaa Hoàng Ngân. Khoảng giá trị tham chiếu được xác định theo phương pháp phi tham số, sử dụng phân vị 2.5 và 97.5. Kết quả: Khoảng tham chiếu được xác định như sau: RBC (Nam 4.6 - 6.0 ×1012/L; Nữ 4.02 - 5.12 ×1012/L), HGB (Nam 136 - 170 g/L; Nữ 119 - 149 g/L), HCT (Nam 0.409 - 0.515 L/L; Nữ 0.356 - 0.448 L/L), MCV (81.5 - 94.2 fL), MCH (26.6 - 31.8 pg), MCHC (322 - 345 g/L), RDW-CV% (12.4 - 17.3%), WBC (4.6 - 10.4 ×109/L), PLT (Nam 154 - 350 ×109/L; Nữ 168 - 379 109/L), MPV (6.8 - 10 fL), Glucose (3.9 - 5.7 mmol/L), Creatinin (Nam 70 - 106 µmol/L; Nữ 55 - 84 µmol/L), AST (7 - 36 U/L), ALT (9 - 35 U/L). Kết luận: Nghiên cứu đã thiết lập được khoảng giá trị tham chiếu cho một số chỉ số huyết học và hóa sinh ở người trưởng thành khỏe mạnh từ 18 đến 35 tuổi tại Phòng khám Đa khoa Đại học Phenikaa Hoàng Ngân.
Abstract
Background: Reference intervals play an important role in interpreting laboratory test results, supporting diagnosis, and monitoring treatment. Objectives: To establish reference intervals for selected hematological and biochemical parameters in healthy adults aged 18-35 years. Materials and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 530 healthy adults aged 18-35 years, classified as grade I health status during routine health check-ups at Phenikaa University Hoang Ngan General Clinic. Reference intervals were determined using the non-parametric method, based on the 2.5th and 97.5th percentiles. Results: The reference intervals were established as follows: RBC (male: 4.6-6.0 ×10¹²/L; female: 4.02 - 5.12 ×10¹²/L), HGB (male: 136 - 170 g/L; female: 119 - 149 g/L), HCT (male: 0.409 - 0.515 L/L; female: 0.356 - 0.448 L/L), MCV (81.5 - 94.2 fL), MCH (26.6 - 31.8 pg), MCHC (322 - 345 g/L), RDW-CV (12.4 - 17.3%), WBC (4.6 - 10.4 ×10⁹/L), PLT (male: 154 - 350 ×10⁹/L; female: 168 - 379 ×10⁹/L), MPV (6.8 - 10.0 fL), glucose (3.9 - 5.7 mmol/L), creatinine (male: 70 - 106 µmol/L; female: 55 - 84 µmol/L), AST (7 - 36 U/L), and ALT (9 - 35 U/L). Conclusion: This study established reference intervals for selected hematological and biochemical parameters in healthy adults aged 18 - 35 years at Phenikaa University Hoang Ngan General Clinic.
Tài liệu tham khảo
[1] Clinical and Laboratory Standards Institute, Defining, Establishing, and Verifying Reference Intervals in the Clinical Laboratory; Approved Guideline - Third Edition, vol 28, 30 vols. 2010.
[2] N.V. Đông, N.Đ. Trưởng, N.T.P. Oanh, B.X. Thành, “Xây dựng khoảng tham chiếu các chỉ số xét nghiệm tế bào máu ngoại vi trên người trưởng thành tại Trung tâm Y tế Hải Hà”, Tạp chí Y học Việt Nam, tập 538, số p.h 1, tr 193-197, 2024. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v538i1.9352
[3] International Standard ISO 15189, “Medical laboratories - Requirements for quality and competence - Fourth edition”, 2022.
[4] Đ. Đ. Thắng, “Xây dựng giá trị tham chiếu một số xét nghiệm hóa sinh máu tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đại học Y Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại Học Y Hà Nội, 2020.
[5] Y. Ozarda, “Reference intervals: current status, recent developments and future considerations”, Biochem. Medica, vol 26, số p.h 1, tr 5-16, 2016. Doi: 10.11613/BM.2016.001.
[6] N. T.Nhạn, N. Q. Minh, T. Q. P. Linh, và L. T. Phương, “Thiết lập và đánh giá khoảng tham chiếu các chỉ số huyết học ở người trưởng thành tại Khoa Huyết học - Truyền máu, Bệnh viện Lê Văn Thịnh, năm 2024”, Tạp chí Y học Cộng đồng, tập 65, số p.h CĐ 6 - Bệnh viện Lê Văn Thịnh, 2024. DOI: https://doi.org/10.52163/yhc.v65iCD6.1367
[7] N.T.P. Oanh và B.T.N. Hà, “Thiết lập khoảng tham chiếu các chỉ số xét nghiệm huyết học tế bào máu ngoại vi trên người trưởng thành”, Tạp chí Y học và Dược học, 2022.
[8] T. T. Thái, “Xây dựng giá trị tham chiếu một số xét nghiệm hoá sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại Học Y Hà Nội, 2021.
[9] BT.N.Hà và Đ.T.Nga, “Xây dựng giá trị tham chiếu các chỉ số xét nghiệm Sinh hóa tại Trung tâm Xét nghiệm, Trường Đại học Y tế công cộng”, Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khoẻ và Phát triển, tập 06, số p.h 03, tr 60-68, 2022. Doi :https://doi.org/10.38148/JHDS.0603SKPT21-123.
Tải xuống
Tải file: 4



