Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc điều trị gout trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Các tác giả

  • Nguyễn Sĩ Long Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Phạm Hồng Thắm Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
  • Nguyễn Thị Thu Hương Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
DOI: https://doi.org/10.59294/HIUJS2026021

Từ khóa:

bệnh gout, allopurinol, colchicin, sử dụng thuốc hợp lý, tương tác thuốc

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, việc điều trị gout ngoại trú vẫn còn nhiều thách thức do thiếu hụt các dữ liệu đánh giá thực trạng kê đơn và tính tuân thủ hướng dẫn điều trị. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tính hợp lý và an toàn trong sử dụng thuốc, từ đó đưa ra cơ sở cải thiện chất lượng điều trị. Mục tiêu: (1) Khảo sát đặc điểm sử dụng các nhóm thuốc điều trị gout trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định; (2) Xác định tỷ lệ sử dụng thuốc hợp lý và mức độ tương tác thuốc trên đơn thuốc điều trị gout. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu 560 đơn thuốc ngoại trú chẩn đoán gout (M10 theo ICD-10) từ 01/9/2024 đến 31/3/2025. Tính hợp lý được đánh giá dựa vào hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế, NICE 2022 và ARC 2020. Kết quả: Bệnh nhân chủ yếu là nam giới (87.5%), tuổi trung bình 59.2 ± 13.48. Các thuốc thường dùng nhất là allopurinol (69.1%), colchicin (33.4%) và NSAIDs ức chế COX-2 (20.9%). Tỷ lệ đơn thuốc hợp lý về chỉ định, phối hợp và thời gian dùng đều đạt mức cao (> 89%), tuy nhiên tỷ lệ hợp lý về liều dùng còn thấp (68.4%). Tương tác thuốc mức độ nghiêm trọng chiếm tỷ lệ đáng kể, dao động từ 19.3% (Medscape) đến 30.0% (Drugs.com). Kết luận: Sử dụng thuốc điều trị gout tại bệnh viện nhìn chung tuân thủ tốt hướng dẫn về chỉ định và phối hợp. Tuy nhiên, cần chú trọng hiệu chỉnh liều và tăng cường giám sát tương tác thuốc để tối ưu hóa an toàn cho bệnh nhân.

Abstract

Background: In Vietnam, outpatient management of gout remains challenging due to a lack of empirical data on prescribing patterns and adherence to clinical guidelines. This study was conducted to evaluate the rationality and safety of drug utilization, providing a basis for improving the quality of treatment. Objectives: (1) To survey the characteristics of drug utilization among outpatients with gout at Gia Dinh People's Hospital; (2) To determine the rate of rational drug use and the prevalence of drug-drug interactions (DDIs) in gout prescriptions. Materials and methods: A cross-sectional, retrospective study was conducted on 560 outpatient prescriptions diagnosed with gout (ICD-10: M10) from September 1, 2024, to March 31, 2025. The rationality of prescriptions was assessed based on the guidelines of the Ministry of Health (Vietnam), NICE 2022, and ACR 2020. Results: The majority of patients were male (87.5%), with a mean age of 59.2 ± 13.48 years. The most frequently prescribed medications were allopurinol (69.1%), colchicine (33.4%), and COX-2 selective NSAIDs (20.9%). Rationality rates for indication, combination therapy, and duration of treatment were high (> 89%); however, the rate of appropriate dosing was lower at 68.4%. The prevalence of major drug-drug interactions ranged from 19.3% (Medscape) to 30.0% (Drugs.com). Conclusion: Drug utilization for gout at the hospital generally adheres well to clinical guidelines regarding indication and combination therapy. Nevertheless, more focus should be placed on dose adjustment and enhanced monitoring of drug-drug interactions to optimize patient safety

Tài liệu tham khảo

[1] N. Dalbeth, A. L. Gosling, A. Gaffo, and A. Abhishek, “Gout,” Lancet, vol. 397, no. 10287, pp. 1843-1855, May 2021, doi: 10.1016/S0140- 6736(21)00569-9.

DOI: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(21)00569-9

[2] K. M. Asghari et al., “Gout: global epidemiology, risk factors, comorbidities and complications: a narrative review,” BMC Musculoskeletal Disorders, vol. 25, no. 1, p. 1047, 2024, doi: 10.1186/s12891- 024-08180-9.

[3] N. T. Thúy, N. T. P. Thủy, T. T. H. Trang, và N. T. T. Thủy, “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh gút và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An,” Tạp chí Y học Việt Nam, tập 544(3), 2024.

DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v544i3.12005

[4] Bộ Y tế, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh cơ xương khớp, 2014.

[5] J. D. FitzGerald et al., “2020 American College of Rheumatology Guideline for the Management of Gout,” Arthritis Care & Research, vol. 72, no. 6, pp. 744-760, 2020, doi: 10.1002/acr.24180.

[6] NICE Guideline, “Gout: diagnosis and management,” 2022.

[7] B. Trí, Đ. Phúc, and N. Hưng, “Thực trạng sử dụng thuốc điều trị gút ở bệnh nhân ngoại trú,” Tạp chí Y học Cộng đồng, số. 64, Mar. 2021, doi: 10.52163/yhcd.v64i3.60.

DOI: https://doi.org/10.52163/yhcd.v64i3.60

[8] Đ. H. Khanh, “Đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân gút tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh Viện Bạch Mai năm 2019,” Tạp chí Y học Cộng đồng, vol. 63, 2020.

[9] P. Richette et al., “2016 updated EULAR evidence-based recommendations for the management of gout,” Annals of the Rheumatic Diseases, vol. 76, no. 1, pp. 29-42, 2017, doi: 10.1136/annrheumdis-2016-209707.

[10] N. Kragh et al., “Evaluation of Real-World Treatment Patterns and Healthcare Resource Utilization in Patients with Chronic Refractory Gout in the United States,” Advances in Therapy, vol. 42, no. 7, pp. 3173-3185, 2025, doi: 10.1007/s12325-025-03189-5.

[11] M. Li, C. Yu, and X. Zeng, “Comparative efficacy of traditional non-selective NSAIDs and selective cyclo-oxygenase-2 inhibitors in patients with acute gout: a systematic review and meta-analysis,” BMJ Open, vol. 10, no. 9, p. e036748, 2020, doi: 10.1136/bmjopen-2019-036748.

DOI: https://doi.org/10.1136/bmjopen-2019-036748

[12] J. W. Kim, S. G. Kwak, and S. H. Park, “Prescription pattern of urate-lowering therapy in Korean gout patients: data from the national health claims database,” Korean Journal of Internal Medicine, vol. 33, no. 1, pp. 228-229, 2018, doi: 10.3904/kjim.2016.429.

DOI: https://doi.org/10.3904/kjim.2016.429

[13] P. Cox, S. Gupta, S. S. Zhao, and D. M. Hughes, “The incidence and prevalence of cardiovascular diseases in gout: a systematic review and metaanalysis,” Rheumatology International, vol. 41, no. 7, pp. 1209-1219, 2021, doi: 10.1007/s00296-021- 04876-6.

[14] P. Drivelegka, V. Sigurdardottir, A. Svärd, L. T. H. Jacobsson, and M. Dehlin, “Comorbidity in gout at the time of first diagnosis: sex differences that may have implications for dosing of urate lowering therapy,” Arthritis Research & Therapy, vol. 20, no. 1, p. 108, 2018, doi: 10.1186/s13075-018-1596-x.

DOI: https://doi.org/10.1186/s13075-018-1596-x

[15] T. R. Mikuls, “Gout,” New England Journal of Medicine, vol. 387, no. 20, pp. 1877-1887, 2022, doi: 10.1056/NEJMcp2203385.

Tải xuống

Số lượt xem: 21
Tải xuống: 0

Đã xuất bản

24.01.2026

Cách trích dẫn

[1]
N. S. Long, P. H. Thắm, và N. T. T. Hương, “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc điều trị gout trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định”, HIUJS, số 39, tr 169–178, tháng 1 2026.

Số

Chuyên mục

DƯỢC HỌC