NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ HÌNH ẢNH QUỐC GIA TRÊN MẠNG XÃ HỘI
DOI:
https://doi.org/10.59294/HIUJS.KHTT.2026.036Từ khóa:
hình ảnh quốc gia, hình ảnh quốc gia đối nội, mạng xã hội, sinh viên, truyền thông lịch sử sốTóm tắt
Nghiên cứu phân tích nhận thức của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình ảnh quốc gia Việt Nam được hình thành qua tiếp nhận nội dung truyền thông mạng xã hội, trong bối cảnh hai sự kiện kỷ niệm lịch sử trọng đại năm 2025: Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) và 80 năm Quốc khánh nước CHXHCNVN (2/9). Khung lý thuyết tích hợp S-O-R kết hợp Lý thuyết Định danh Xã hội và Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng được vận dụng, tiếp cận hình ảnh quốc gia theo chiều đối nội qua mô hình ba trụ cột hiệu chỉnh từ lục lăng Anholt. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp phân tích mô tả theo diễn ngôn với mẫu sinh viên đa ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy sinh viên tiếp cận nội dung chủ yếu qua cơ chế thuật toán thụ động thay vì tìm kiếm chủ động; nội dung truyền thông kích hoạt cảm xúc công dân ở mức cao và nhất quán, song tồn tại khoảng cách có tính cấu trúc giữa cảm xúc tình cảm và hành vi công dân chủ động; nhận thức về hình ảnh quốc gia đạt mức tích cực trên toàn mẫu. Nghiên cứu đề xuất hàm ý thực tiễn về đổi mới phương thức truyền tải nội dung lịch sử trên nền tảng số nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị cho thế hệ trẻ.
Tài liệu tham khảo
[1] Y. Fan, “Branding the nation: Towards a better understanding,” Place Brand. Public Dipl., vol. 6, May 2010, doi: 10.1057/pb.2010.16.
[2] M. N. AlKhudari, O. J. Abduljabbar, A. M. Al Manaseer, and M. S. AL-Omari, “The role of social media in shaping public opinion among Jordanian university students,” J. Infrastruct. Policy Dev., vol. 8, no. 8, p. 5489, 2024, doi: 10.24294/jipd.v8i8.5489.
[3] C. Zhang, D. Zhang, and H. L. Shao, “The softening of Chinese digital propaganda: Evidence from the People’s Daily Weibo account during the pandemic,” Front. Psychol., vol. Volume 14-2023, 2023, doi: 10.3389/fpsyg.2023.1049671.
[4] N. Che-Ha, B. Nguyen, W. K. Yahya, T. Melewar, and Y. P. Chen, “Country branding emerging from citizens’ emotions and the perceptions of competitive advantage: The case of Malaysia,” J. Vacat. Mark., vol. 22, no. 1, pp. 13–28, Jan. 2016, doi: 10.1177/1356766715586454.
[5] T. Trần Quang, “Tác động của mạng xã hội đến phương thức tuyên truyền chính trị cho thanh niên,” Quản Lý Nhà Nước, no. 329, pp. 12–16, Aug. 2023.
[6] T. K. N. Nguyễn, “Văn hóa truyền thông trong hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và khuyến nghị,” Tạp Chí Khoa Học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, vol. 19, no. 7, pp. 1175–1185, 2022, doi: 10.54607/hcmue.js.19.7.3526(2022).
[7] U. Neisser, Cognitive psychology: Classic edition. Psychology press, 2014.
[8] A. Mehrabian and J. A. Russell, An Approach to Environmental Psychology. Cambridge, MA: MIT Press, 1974.
[9] H. Tajfel and J. C. Turner, “An Integrative Theory of Intergroup Conflict,” in The Social Psychology of Intergroup Relations, W. G. Austin and S. Worchel, Eds., Monterey, CA: Brooks/Cole, 1979, pp. 33–47. [Online]. Available: https://psycnet.apa.org/record/2010-11535-008
[10] A. Whiting and D. Williams, “Why people use social media: A uses and gratifications approach,” Qual. Mark. Res., vol. 16, Jun. 2013, doi: 10.1108/QMR-06-2013-0041.
[11] S. Anholt, Competitive Identity: The New Brand Management for Nations, Cities and Regions. London: Palgrave Macmillan, 2007. doi: 10.1057/9780230627727.
[12] W. G. Cochran, Sampling Techniques, 3rd ed. New York, NY: Wiley, 1977.



