Đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai năm 2024
DOI:
https://doi.org/10.59294/HIUJS.33.2025.724Từ khóa:
viêm tĩnh mạch, kim luồn tĩnh mạch ngoại biên, VIP ScoreTóm tắt
Viêm tại chỗ do đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên là vấn đề cần quan tâm trong chăm sóc điều dưỡng, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên, tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên ở người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất – Đồng Nai năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được thực hiện trên 350 người bệnh điều trị nội trú được đặt và lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất - Đồng Nai từ ngày 01/04/2024 đến ngày 30/9/2024. Kết quả: Tỷ lệ viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu PVC là 23.1%; Trong đó viêm tĩnh mạch độ 1 chiếm tỷ lệ 21.4%; Viêm độ 2 chiếm tỷ lệ: 1.7%; Không có viêm độ 3, độ 4, độ 5. Một số yếu tố liên quan đến viêm tĩnh mạch gồm: Tuổi ≥ 60; BMI < 18.5/ BMI >23; Có bệnh lý nền mạn tính; Thời gian lưu kim lâu, kích cỡ kim lớn, sử dụng chạc ba kết nối, sử dụng một số thuốc qua đường tĩnh mạch: Dobutamin, KCL, dịch truyền đạm và cao phân tử. Kết luận: VTM tại vị trí lưu PVC là một vấn đề phổ biến và có thể xảy ra với mỗi người bệnh. Cần theo dõi để phát hiện sớm viêm tĩnh mạch sau đặt PVC nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
Tài liệu tham khảo
[1] L. T. Nhung, T. Q. Trung và L. T. Cúc, “Viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn và một số yếu tố liên quan tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược Hà Nội”. Tạp chí nghiên cứu y học, 145(9), 85-92, 2021.
[2] Nickle B. “Infusion Therapy Standards of Practice, 9th Edition”, J Infus Nurs. Jan-Feb;47(1S Suppl 1):S1S285. doi:10.1097/NAN.0000000000 000532.
[3] T. Đ. T. Phong, N. V. Thà và T. H. Giang. “Khảo sát tỉ lệ viêm tại chỗ do đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên tại khoa hồi sức cấp cứu BVTM An Giang”, Bệnh Viện Tim Mạch An Giang, NCKH năm 2021.
[4] B. V. Thắng, Đ. T. V. Anh và P. V. Trường, “Viêm tĩnh mạch và các yếu tố liên quan ở người bệnh có lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh Viện Quốc Tế Vinmec Times City năm 2020”, Tạp chí Điều Dưỡng Việt Nam, số 32, 27-33, 2020.
[5] Samuel K.S., Zechariah Jebakumar A. and Hassan SN., “Estimation of risk factors of phlebitis with intravenous cannulated patients”, International Journal of Obstetrics and Gynecology Nursing, 1(1), 26-31, 2014.
[6] Mandal A. and Raghu K. “Study on incidence of phlebitis following the use of pherpheral intravenous catheter”. J Family Med Prim Care, 8(9), 2827-2831, 2019. Doi: 10.4103/jfmpc.jfmpc_559_19. PMID: 31681650; PMCID: PMC6820419.
[7] V. B. Quỳnh, N. N. Thanh, …và T. T. T. An, “Khảo sát tỷ lệ viêm tại chỗ và một số yếu tố liên quan sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021”. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, tập 17, số đặc biệt, 2022.
[8] Lidetu Bayeh T, Yirga Birhie A and Mesfin Alene E. “Time to Develop Phlebitis and Its Predictors Among Patients with Peripheral Intravenous Cannula at Public Hospitals of Bahir Dar City, Amhara, Ethiopia, 2022: A Prospective Observational Study”, Nursing: Research and Reviews, 13 51-60, 2023. Doi: https://doi.org/10.2147/NRR.S414331.
[9] C. V. Long và Đ. V. Hệ, “Nghiên cứu nguy cơ viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”. Khoa học Điều dưỡng, 03(04), 33- 42, 2020.
[10] Đ. D. Quang và cộng sự, “Đánh giá tình trạng viêm tại chỗ trên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên tại Bệnh viện Trung ương Huế”. Tạp chí Y học lâm sàng - Bệnh viện Trung ương Huế, 63, 2020. Doi:10.38103/jcmhch.2020.63.10.



