Khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ bảo quản đến số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi

Các tác giả

  • Nguyễn Anh Xuân Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng https://orcid.org/0000-0002-3752-9683
  • Nguyễn Duy Khang Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Nguyễn Phước Sang Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Lại Nhật Linh Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Nhữ Đức Cảnh Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Trần Thị Thúy Duy Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
  • Nguyễn Cẩm Hoàng Phòng khám Đa khoa Nhân Đức 2
  • Diệp Thị Kim Duy Công ty TNHH Phòng khám Đa khoa Trí Việt

DOI:

https://doi.org/10.59294/HIUJS.31.2024.662

Từ khóa:

số lượng bạch cầu, tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, nhiệt độ bảo quản, thời gian bảo quản

Tóm tắt

Tế bào bạch cầu đóng vai trò thiết yếu trong hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây bệnh. Việc xác định chính xác số lượng và phân loại tế bào bạch cầu trong máu đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và đánh giá sức khỏe người bệnh. Xét nghiệm bạch cầu thường được thực hiện trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (Complete Blood Count - CBC). Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm thời gian và nhiệt độ bảo quản mẫu máu. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá mức độ thay đổi số lượng tế bào bạch cầu theo thời gian và nhiệt độ bảo quản. Đối tượng nghiên cứu là 36 sinh viên chính quy thuộc Khoa Xét Nghiệm Y học, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian thực hiện xét nghiệm và điều kiện bảo quản mẫu ảnh hưởng đến độ chính xác của số lượng bạch cầu. Nên thực hiện xét nghiệm trong vòng 12 giờ sau khi lấy mẫu và điều kiện bảo quản thích hợp nhất là ở nhiệt độ lạnh (4°C ± 2°C). Việc bảo quản mẫu đúng cách giúp đảm bảo kết quả xét nghiệm bạch cầu ổn định và chính xác nhất, góp phần chẩn đoán bệnh chính xác và điều trị hiệu quả.

Tài liệu tham khảo

[1] H. Kutlu, E. Avci và F. Ozyurt, “White blood cells detection and classification based on regional convolutional neural networks,” Medical hypotheses, tập 109472, p. 135, 2020.

[2] V. H. Reddy, "Automatic red blood cell and white blood cell counting for telemedicine system," International Journal of Research in Advert Technology, vol. 2, no. 1, pp. 294-299, 2014.

[3] O. S. Unalli and Y. Ozarda, "Stability of hematological analytes during 48 hours storage at three temperatures using Cell-Dyn hematology analyzer," J Med Biochem, vol. 40, no.3, pp. 252-260, 2021.

[4] G. L. Gulati, L. J. Hyland, W. Kocher and R. Schwarting, "Changes in automated complete blood cell count and differential leukocyte count results induced by storage of blood at room temperature," Arch Pathol Lab Med, vol. 126, no. 3, pp. 336-342, 2002.

[5] A. Joshi, W. McVicker, R. Segalla, E. Favaloro, V. Luu and T. Vanniasinkam, "Determining the stability of complete blood count parameters in stored blood samples using the SYSMEX XE-5000 automated haematology analyser," International Journal of Laboratory Hematology, vol. 37, no. 5, pp. 705-714, 2015.

[6] T. Woolley, B. J. Davies, E. Rutter, …W. Relf, "A Comparison Between the HORIBA Yumizen H500 Point-of-Care Hematology Analyzer With a 5-Part White Cell Differential and the HORIBA Pentra 120," Point of Care: The Journal of Near-Patient Testing & Technology, vol. 16, no. 2, pp. 89-92, 2017.

[7] J. B. LaValle, Đọc hiểu kết quả xét nghiệm máu, Thành Phố Hà Nội: NXB Đại học Huế, 2020.

[8] V. L. Hill, "Evaluation of the Performance of the Sysmex XT-2000i Hematology Analyzer With Whole Bloods Stored at Room Temperature," Lab Med, vol. 40, no. 12, pp. 709-718, 2009.

Tải xuống

Đã Xuất bản

24.09.2024

Cách trích dẫn

[1]
N. A. Xuân, “Khảo sát ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ bảo quản đến số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi”, HIUJS, số 31, tr 37–44, tháng 9 2024.

Số

Chuyên mục

Y HỌC

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả