XÁC ĐỊNH BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ BẰNG NGHIỆM PHÁP DUNG NẠP GLUCOSE ĐƯỜNG UỐNG (OGTT) Ở THAI PHỤ KHÁM THAI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI
DOI:
https://doi.org/10.59294/HIUJS.KHTT.2024.017Từ khóa:
đái tháo đường thai kỳ, nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống, glucoseTóm tắt
Đặt vấn đề: Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một rối loạn chuyển hóa có xu hướng ngày càng nhiều tại Việt Nam. Chẩn đoán sớm và quản lý tốt tình trạng đường huyết giúp cải thiện kết cục thai kỳ. Mục tiêu: Khảo sát giá trị về độ đúng và độ chính xác của xét nghiệm glucose trên hệ thống máy Beckman Coulter AU5800, xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và một số yếu tố liên quan tới ĐTĐTK ở thai phụ khám thai tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Phương pháp nghiên cứu:Tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, từ tháng 6/2023 đến tháng 11/2023, chúng tôi đã nghiên cứu cắt ngang tất cả các thai phụ có tuổi thai từ 24 - 28 tuần. Các thai phụ được làm nghiệm pháp dung nạp 75g glucose - 2 giờ theo tiêu chuẩn của ADA (2022). Kết quả: 251 thai phụ tham gia nghiên cứu, tỷ lệ ĐTĐTK là 27.9% (KTC 95%: 22.4 - 33.9). Các yếu tố độc lập liên quan với đái tháo đường thai kỳ: Sản phụ ≥ 35 tuổi tăng nguy cơ ĐTĐTK với OR = 4.16 (KTC 95% [1.54 - 1.23]; p = 0.005); tiền căn bản thân ĐTĐTK làm tăng nguy cơ ĐTĐTK với OR = 6.45 (KTC 95% [1.90 - 21.82]; p = 0.03), tiền căn sinh con to > 4,000g làm tăng nguy cơ ĐTĐTK với OR = 3.74 (KTC 95% [3.04 - 4.6]; p = 0.01). Xác định độ chính xác và độ đúng của xét nghiệm glucose đều đạt theo tiêu chuẩn chấp nhận. Kết luận: Đái tháo đường thai kỳ là bệnh lý có thể chẩn đoán sớm thông qua xét nghiệm tầm soát dung nạp glucose đường uống, giúp xử lý và can thiệp có hiệu quả, giảm thiểu nguy cơ cho mẹ và thai nhi.
Tài liệu tham khảo
[1] Trương Minh Phương, “Nghiên cứu thực trạng đái tháo đường thai kỳ và kết quả sản khoa ở những thai phụ đái tháo đường thai kỳ”, Đại học Y Hà Nội, 2020.
[2] Bộ Y tế, “Hướng dẫn quốc gia dự phòng và kiểm soát đái tháo đường thai kỳ”, 2018, tr.2-10.
[3] American Diabetes Association, “Classification and Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in Diabetes-2022”, Diabetes Care 2022;45(Suppl 1), 2022, S17-S38 https://doi.org/10.2337/
dc22-S002(S30-S32).
[4] Bùi Thị Kiều Diễm và cộng sự, “Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Sản nhi tỉnh Kiên Giang”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, số 2, 2023.
[5] Coulter Beckman, “Instructions For Use-Glucose”, 2021, 1-8.
[6] Bùi Thị Phương Nga và cộng sự, “Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan của đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Đa Khoa Long An”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 23, số 2, 2019.
[7] Lê Thị Tường Vi, “Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan ở thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện Quận 1”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 25, số 1, 2021.
[8] Sugaya, A., Sugiyama, T., Nagata, M., & Toyoda, N., “Comparison of the validity of criteria of gestational diabetes mellitus by WHO and by the Japan Society of Obstetrics and Gynecology by the outcomes of pregnancy”, Diabetes Research and Clinical Practice, 50(1):57-63, 2000.
[9] CLSI, "A frameword for Using CLSI document to evaluate medical laboratory test method, 3rd ed. CLSI report EP19", Clinical and laboratory standards institude, 2022.
[10] Huỳnh Ngọc Duyên và cộng sự, “Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện sản nhi Cà Mau”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 23, số 2, 2019.



