HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CẦU NỐI THÔNG ĐỘNG TĨNH MẠCH CỦA NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI
DOI:
https://doi.org/10.59294/HIUJS20250146Từ khóa:
cầu nối thông động tĩnh mạch, AVF, suy thận mạn, lọc máu chu kỳTóm tắt
Đặt vấn đề: Hành vi tự chăm sóc cầu nối thông động tĩnh mạch của bệnh nhân (BN) lọc máu chu kỳ rất quan trọng trong việc phòng ngừa biến chứng và tăng tuổi thọ cầu nối thông động tĩnh mạch, từ đó kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hành vi tự chăm sóc cầu nối thông động tĩnh mạch của người bệnh suy thận mạn tại khoa thận nhân tạo Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 373 bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo (TNT) chu kỳ bằng AVF 2 - 3 lần/1 tuần. Kết quả: Nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam; chủ yếu tập trung ở lứa tuổi trung niên (45 - 59) và cao tuổi(≥ 60). Có 302 người (81.0%) đạt mức hành vi tự chăm sóc tốt và 71 người (19.0%) có hành vi tự chăm sóc kém. Tuổi, thời gian lọc máu và tình trạng có hay không có người nhà đi cùng có mối liên quan với mức độ hành vi tự chăm sóc của người bệnh. Kết luận: Tỉ lệ người bệnh suy thận mạn có hành vi tự chăm sóc tốt về cầu nối thông động tĩnh mạch là 81.0%; các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc cầu nối thông động tĩnh mạch là tuổi, thời gian lọc máu và có người nhà đồng hành.
Tài liệu tham khảo
[1] A. Bello, F. Madore, and B. J. Manns, “CSN Commentary Canadian Society of Nephrology Commentary on the KDIGO Clinical Practice Guideline for CKD Evaluation and Management,” Kidney International Supplements, 2024.
[2] J. T. Daugirdas, P. G. Blake, and T. S. Ing, Handbook of dialysis: Lippincott Williams & Wilkins, 2014.
[3] E. Bulbul, M. Yildiz Ayvaz, T. Yeni, S. Turen, and S. J. T. J. o. V. A. Efil, “Arteriovenous fistula self-care behaviors in patients receiving hemodialysis treatment: Association with health literacy and self-care agency,” Hemodialysis International, vol. 24, no. 6, pp. 1358-1364, 2023.
[4] L. H. Long, P. H. K. Xuân, P. H. Khánh, V. A. Khánh, H. Đ. Thuần, L. C. Toàn, and P. Q. J. T. c. Y. h. V. N. Toản, “Khảo sát sự hiểu biết về cầu nối thông động tĩnh mạch (AVF) và chế độ ăn uống liên quan Kali, Phospho ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ,” Tạp chí Y học Việt Nam, tập 541, số 2, 2024.
[5] M. Adib-Hajbagheri, N. Molavizadeh, N. M. Alavi, M. H. M. J. I. j. o. n. Abadi, and m. research, “Factors associated with complications of vascular access site in hemodialysis patients in Isfahan Aliasghar hospital,” Iran Journal of Nursing and Midwifery Research, vol. 19, no. 2, pp. 208-214, 2014.
[6] M. m. Yang, H. h. Zhao, X. q. Ding, G. h. Zhu, Z. h. Yang, L. Ding, X. h. Yang, Y. Zhao, L. Chen, R. m. J. T. A. Yang, and Dialysis, “Self‐care behavior of hemodialysis patients with arteriovenous fistula in China: A multicenter, cross‐sectional study,” Hemodialysis International, vol. 23, no. 2, pp. 167-172, 2019.
[7] N. R. C. Pessoa, and F. M. P. J. E. A. N. Linhares, “Hemodialysis patients with arteriovenous fistula: knowledge, attitude and practice,” Escola Anna Nery, vol. 19, pp. 73-79, 2015.
[8] C. N. Sousa, P. Marujo, P. Teles, M. N. Lira, M. E. L. M. J. T. A. Novais, and Dialysis, “Self‐care on hemodialysis: Behaviors with the arteriovenous fistula,” Therapeutic Apheresis and Dialysis, vol. 21, no. 2, pp. 195-199, 2017.



