KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG NHỒI MÁU NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI

Các tác giả

  • Nguyễn Văn Cường Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai https://orcid.org/0000-0002-3752-9683
  • Trần Minh Thành Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai
  • Lê Văn Tới Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai

DOI:

https://doi.org/10.59294/HIUJS20250128

Từ khóa:

nhồi máu não cấp, can thiệp nội mạch, lấy huyết khối cơ học, TICI

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho nhồi máu não cấp do tắc động mạch lớn, giúp tái thông nhanh và cải thiện tiên lượng. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả tái thông, biến chứng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhồi máu não cấp được can thiệp nội mạch. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 36 bệnh nhân tắc động mạch lớn điều trị bằng lấy huyết khối cơ học (có/không kết hợp rt-PA) tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai từ 10/2024 - 10/2025. Kết quả: Tuổi trung bình 63.4 ± 13.2 tuổi; nam 52.8%. Vị trí tắc phổ biến: M1 (44.4%), ĐM cảnh trong (33.3%). Tỷ lệ tái thông tốt (TICI 2B-3) là 86.1%; TICI 3: 83.3%. Thời gian can thiệp trung bình 66.1 phút. Biến chứng xuất huyết có triệu chứng 16.6%. Điểm NIHSS giảm trung bình 4.3 điểm sau 24 giờ. Rung nhĩ (p = 0.042) và thời gian can thiệp ≤ 60 phút (p = 0.003) liên quan đến tái thông tốt. Kết luận: Can thiệp nội mạch tại BVĐK Thống Nhất Đồng Nai bước đầu đạt tỷ lệ tái thông cao và biến chứng chấp nhận được, chứng minh tính khả thi và an toàn.

Từ khóa: nhồi máu não cấp, can thiệp nội mạch, lấy huyết khối cơ học, TICI

Tài liệu tham khảo

[1] WHO MONICA Project Principal Investigators, “The World Health Organization MONICA Project (monitoring trends and determinants in cardiovascular disease): a major international collaboration,” J. Clin. Epidemiol., vol. 41, no. 2, pp. 105-114, 1988, doi: 10.1016/0895-4356(88)90084-4.

[2] N. H. Ngọc và D. V. Phương, “Kết quả điều trị lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học ở 138 bệnh nhân thiếu máu não cấp do tắc nhánh lớn động mạch nội sọ,” Tạp chí Y dược lâm sàng 108, vol. 12, pp. 66-71, 2017.

[3] V. Đ. Lưu, “Kết quả ban đầu điều trị nhồi máu não tối cấp bằng dụng cụ lấy huyết khối Solitaire kết hợp tiêu sợi huyết đường động mạch: nhân 2 trường hợp,” Tạp chí Điện quang Việt Nam, vol. 8, pp. 254-260, 2012.

[4] V. V. Lanh, Nghiên cứu kết quả điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp do tắc động mạch lớn trong 6 giờ đầu bằng dụng cụ stent Solitaire, Luận án tiến sĩ Trường Đại học Y Hà Nội, 2019.

[5] M. Paciaroni, V. Caso, and G. Agnelli, “The concept of ischemic penumbra in acute stroke and therapeutic opportunities,” Eur. Neurol., vol. 61, no. 6, pp. 321-330, 2009, doi: 10.1159/000210544.

[6] P. Khatri et al., “Time to angiographic reperfusion and clinical outcome after acute ischaemic stroke: an analysis of data from the IMS III phase 3 trial,” Lancet Neurol., vol. 13, no. 6, pp. 567-574, 2014.

[7] D. T. Mai, V. P. Dao, V. C. Nguyen et al., “Low-dose vs. standard-dose intravenous alteplase in bridging therapy among patients with acute ischemic stroke: Experience from a stroke center in Vietnam,” Front. Neurol., vol. 12, p. 466, 2021, doi: 10.3389/fneur.2021.653820.

[8] P. J. Mitchell et al., “Endovascular thrombectomy versus standard bridging thrombolytic with endovascular thrombectomy within 4.5 h of stroke onset: an open-label, blinded-endpoint, randomized non-inferiority trial,” Lancet, vol. 400, no. 10346, pp. 116-125, 2022, doi: 10.1016/S0140-6736(22)01234-X.

Tải xuống

Đã Xuất bản

24.12.2025

Cách trích dẫn

[1]
N. V. Cường, T. M. Thành, và L. V. Tới, “KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG NHỒI MÁU NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI”, HIUJS, số p.h ĐẶC BIỆT - 2, tr 22–26, tháng 12 2025.

Số

Chuyên mục

Y HỌC