Các vấn đề liên quan đến thuốc trong đơn ngoại trú tại Bệnh viện A thành phố Đà Nẵng năm 2024
DOI:
https://doi.org/10.59294/HIUJS2026018Từ khóa:
đơn thuốc ngoại trú, DRP, tương tác thuốcTóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm đơn thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc trong đơn ngoại trú tại Bệnh viện A thành phố Đà Nẵng năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 978 đơn thuốc ngoại trú được bảo hiểm y tế chi trả tại Bệnh viện A từ tháng 5/2024 - 6/2024. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên 978 đơn thuốc với bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 64.71 tuổi. Với tỷ lệ nam nữ xấp xỉ nhau, số chẩn đoán trung bình là 2.93 số chẩn đoán, với các bệnh lý chính về tim mạch, đái tháo đường … các bệnh lý mạn tính chiếm chủ yếu. Nghiên cứu thu được 821 đơn có ít nhất 01 vấn đề liên quan đến thuốc (Drug-related problems - DRP), chiếm tỷ lệ 83.9% trên tổng đơn khảo sát. Trong đó, tỷ lệ đơn có đúng 01 DRP là 53.7%. Mã DRP phổ biến nhất bao gồm là mã T2.99 (vấn đề sử dụng dạng bào chế đặc biệt) với tỷ lệ 69.15% và mã T1.2 (tương tác thuốc) chiếm 13.81%. Mã T2.5 (thời điểm dùng chưa phù hợp) chiếm 6.82%. Kết luận: Qua phân tích trên 978 đơn thuốc tại khoa khám bệnh ngoại trú thuộc Bệnh viện A, nhóm nghiên cứu phát hiện được 1,115 DRP. Chủ yếu là vấn đề thiếu hướng dẫn sử dụng các dạng bào chế đặc biệt.
Tài liệu tham khảo
[1] P.C.N.E. Association, Pharmaceutical Care Network Europe Classification for Drug Related Problem V9.1, 2020.
[2] A.S. Kesselheim et al., “Changes in prescribing and healthcare resource utilization after FDA Drug Safety Communications involving zolpidem-containing medications,” Pharmacoepidemiology and Drug Safety, vol. 26, no. 6, pp. 712-721, 2017.
[3] T.H. Bùi, Q.Đ. Lâm, T.D. Đặng và T. Nguyễn, “Nghiên cứu tình hình kê đơn ngoại trú tại các cơ sở y tế công lập thuộc huyện Kiên Lương năm 2022,” Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, số 65, tr. 72-79, 2023. DOI: 10.58490/ctump.2023i65.997.
[4] W. Simonson and J.L. Feinberg, “Medicationrelated problems in the elderly: defining the issues and identifying solutions,” Drugs & Aging, vol. 22, pp. 559-569, 2005.
[5] R. Kaushal et al., “Medication errors and adverse drug events in pediatric inpatients,” JAMA, vol. 285, no. 16, pp. 2114-2120, 2001.
[6] J.H. Watanabe, T. McInnis và J.D. Hirsch, “Cost of prescription drug-related morbidity and mortality,” Annals of Pharmacotherapy, vol. 52, no. 9, pp. 829- 837, 2018.
[7] T.T. L. Lê và H.T. Nguyễn, “Khảo sát các vấn đề liên quan đến thuốc trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại một bệnh viện đa khoa thuộc thành phố Thủ Đức,” Tạp chí Y học Việt Nam, tập 518, số 1, tr. 45-52, 2021.
[8] T.L.C. Phạm, T.T. Sáu và H.T. Nguyễn, “Khảo sát các vấn đề liên quan đến thuốc qua đơn thuốc kê cho bệnh nhân khám bệnh ngoại trú của một bệnh viện hạng I tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021,”Journal of 108 - Clinical Medicine and Pharmacy, tập 18, tr. 35-42, 2021.
[9] Á.N. Nguyễn, “Đánh giá hiệu quả can thiệp dược lâm sàng trên việc kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ,” Luận văn Thạc sĩ Dược học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2019.
[10] T.H. Phượng và T.T. Hiền, “Khảo sát các tương tác thuốc trong đơn thuốc điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế,” Tạp chí Y Dược học, tr. 26-36, 2018.
[11] S.I. Al-Azzam, K.H. Alzoubi, S. AbuRuz và Q. Alefan, “Drug-related problems in a sample of outpatients with chronic diseases: a cross-sectional study from Jordan,” Therapeutics and Clinical Risk Management, pp. 233-239, 2016.
[12] National Medicines and Pharmacy Centre UK, Medicines optimisation: the safe and effective use of medicines to enable the best possible outcomes, 2015.
[13] T.L. Nguyễn, “Khảo sát các vấn đề liên quan đến thuốc trong đơn ngoại trú tại Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội,” Luận văn Dược sĩ chuyên khoa I, Trường Đại học Dược Hà Nội, 2023.
[14] P.O. Katz, L.B. Gerson và M.F. Vela, “Guidelines fo r t h e d i a g n o s i s a n d m a n a g e m e n t o f gastroesophageal reflux disease,” American Journal of Gastroenterology, vol. 108, no. 3, pp. 308-328, 2013. DOI: 10.1038/ajg.2012.444.



